Học tập

Darius Đại đế

Darius Đại đế

Darius Đại đế. Dariưs I, hay Đại đế, theo cách gọi có phần nào thiêu chính xác, cai trị đế chẽ từ năm 521 đên 486 TCN. Những nãm đầu cai trị, chủ yếu là trấn áp các cuộc nổi dậy cửa thần dân trong nước và cải thiện tổ chức quản lý hành chính của nhà nước. Trong cả hai nhiệm vụ này, ông có được thành công đáng kể, nhưng tham vọng quyền lực đã đưa ông di quá xa. Lây cớ kiểm soát sự xâm nhập của người Scythian, ông vượt sông Hellespont, chiếm phần lớn vùng bờ biển Thracian, và do đó tạo ra sự thù dịch của người Athens. Ngoài ra, ông còn táng cường hoạt động trấn áp người Hy Lạp ở Ionian trên bờ biển Tiểu Á, trước đây rơi vào ách thống trị của Ba Tư trong cuộc xâm chiếm của Lydia. Ống can thiệp vào hoạt động thương mại, thu vật triều cống nhiều hơn, và buộc họ phải phục vụ trong quản đội của mình. Kết quả trực tiếp là cuộc nổi dậy của các thành phố Ionian với sự giúp đỡ của Athens. Khi Darius cố trừng phạt người Athens vì tội tham gia cuộc nổi dậy, õng lao vào cuộc chiến với gần như tất cả các thành bang Hy Lạp.

Sự sụp đổ của đế chế Ba Tư. Sự đại bại của người Ba Tư trong cuộc chiến với Hy Lạp là bước ngoặt trong lịch sử của họ. Khả năng tân công của đê chế lúc này không còn nữa, vì sự quan tâm của dân tộc tập trung vào sự vinh quang quán sự, ảnh hưởng từ sự hợp nhâ’t bị tan vỡ. Cả nước rơi vào sự trì trệ và suy sụp. 150 nàm tồn tại sau cùng của đê chê này mang đặc điểm các vụ ám sát thường xuyên, cuộc nổi dậy của các thõng đô’c tỉnh, và sự xâm lăng của các bộ tộc man rợ, sau cùng cho đên năm 330 TCN nền độc lập của đê chẽ bị các dạo quân của Alexander Đại dế thôn tính.

Cách đối xử của người Ba Tư đối với các dăn tộc bị xăm chiếm. Có

nhiều tư liệu viết về tư tưởng tự do và tính hiệu quả của chính quyền Ba Tư, nhưng dường như không chắc rằng cách quản lý này vượt trội hơn một số đế chế trước đó. Trong khi thực tế Cyrus cũng như những người kê vị sau này không hề bắt chước chủ nghĩa khủng bô của người Assyria, chính sách của các bạo chúa Ba Tư không phải là không trấn áp. Tương tự, cũng khó giải thích nguyên nhân của tần số các cuộc nổi dậy thường xuyên chống lại họ. Sau cùng, họ áp mức triều công rất nặng đối với các dân tộc bị xâm chiếm – Ai Cập phải cống nạp 700 lạng bạc và Chaldea 1000 lạng bạc hàng năm’

ây là chưa kể đến việc buộc công dân các nước này phải phục vụ trong quân đội và không cho họ tham gia các chức vụ cai trị. Những bất lợi như . thế này không thể bù đắp cho đặc quyền được giữ lại tập quán, luật pháp và tín ngưỡng địa phương, mà người Ba Tư ban cho các dân tộc bị mình chinh phục.

Chính quyền Ba Tư. Trên lý thuyêt, vua Ba Tư là nhà vua chuyên chê cai trị băng sự ân sủng của thần hiểu biết. Không có thể chế hay nguyên tắc công lý nào hạn chế quyền bính tối cao của nhà vua. Trên thực tế, nhà vua phải làm theo ý của các quý tộc chủ chốt trong vương quốc và phải tôn trọng tập quán lâu đời, tôn trọng luật pháp truyền thống của người Mede và người Ba Tư. Ví mục dích cai trị địa phương, đê chê được chia

‘ Lạng là đơn vị trọng lUỢng chứ không phải hệ thống tiền tệ, và thay đổi khác nhau theo từng nuớc. Nguời Ba Tư, nếu họ SỪ dụng “lạng” Do Thái- Babylon, đánh thuế khoảng 1,6 triệu ourice bạc từ Chaldea và khoảng 1,1 triệu ounce từ Ai Cập. Bạc năm 1961 bẩn với giá khoảng 91 cent mõi ounce.