Học tập

THỜ MẪU Ở LẠNG SƠN

THỜ MẪU Ở LẠNG SƠN
  1. Thò Mau của người Tày – Nùng và người Việt

Đồng Đăng có phố Kỳ Lứa

Cỏ nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Câu ca ấy đă đi vào tâm thức mỗi người dân Việt Nam như sự nhắc nhỏ về một mảnh đát rất dổi thân quen nơi địa đầu Tổ Qưốc.

>Khóa luyện thi Violympic toán lớp 8

Lạng Sơn trong tiền trình lịch sủ lâu dài, và vđi vị trí địa lý dặc biệt, nhúng kỳ tích nổi tiếng như động Tam Thanh, sông Kỳ Cùng, hòn Vọng Phu với sự hỗn sung, giao thoa phong phú về mặt văn hóa và tín ngưỡng của nhiều tộc người đã tạo nên nét đặc sắc, tiêu biểu cho một nền vãn hóa xư Lạng, Mặc dù tên các đơn vị hành chính trực thuộc vùng đất này đã được ghi chép trong sủ của các triều đại cũ, nhưng mãi đến năm 1831 (Minh Mệnh thứ 12) tên tỉnh “Lạng Sơn” mới thấy xuất hiện trong các công văn giấy tờ của triều Nguyễn.

 

>>Xem thêm góc học tập

 

Trải qua bao thăng trầm, Lạng Sơn đã tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc, trỏ thành phên dậu bảo vệ cho cả dải đất quê hương đất nước. Là một đầu mối giao thông quan trọng, Lạng Sơn cũng đâ là sinh tụ của nhiều tộc người như Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, lả nơi gặp gổ của nhiều luồng văn hóa. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng người Tày – Thái cố (Tày -Nùng) là cư dán bản địa ỏ vùng này. Cùng vói thòi gian người Việt từ miền xuôi lên, người Hoa ỏ bên kìa biên giói sang hòa nhập, giao [ưu với cư dân bán địa tạo thành một cộng đồng lớn: một mặt, mỗi tộc ngưòi đều có những nét văn hóa riêng biệt, mặt khác mang dáng vẻ chung của cộng đồng cư dân xứ Lạng. Chính sự phong phú về thành phần tộc ngưòi đã dẫn đán sự phiỉc tạp về hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng trong vùng. Bên cạnh nhứng quan niệm về “phi” (ma), thò thần bản mệnh, tròi đất, tổ tiên , Tam giáo (Phật, Đạo, Nho) dã có ảnh hưỏng trong đời sống tín ngưỡng của người dân.

Dù vào bằng con đưòng nào thì các tôn giáo ngoại lai này cũng đã buộc phải địa phương hóa và ngược lại, các tín ngưỡng bản địa không còn thuần nhất mà cũng chịu ảnh hưỏng và biến dổi. Sự hỗn dung tốn giáo ấy đâ tạo nên một diện mạo khá độc đáo cho đài sống tinh thần tín ngưỡng của cư dân Lạng Sơn. Chúng ta dỗ nhận ra điều này khi xcm xét khá nhiều các di tích tôn giáo trong vùng có thở phụng đan xen cả Phật, Đạo, Mău, Linh vật Ngay từ thế ký XVIII, theo sách Lạng Sơn thành đồ của tác giả Nguyễn Nghiễm (viết năm Cánh Hưng thứ 19, 1758) ỏ trấn thành Lạng Son có 17 đền như đền Mâu Sơn ả xã Khuất Xá, đền Pha Long ổ xả Mai Pha, dền Đồng Môn, đền Cây Ngài, Bắc Môn, đền Cao Bá tại xả Nhân Lý, đền Ca My ỏ xã Hoa Sơn, đền Kỳ Cùng á xã Vĩnh Trại, đền Tả Phủ ỏ phổ Khâu Lư, đền Đà Hòa ở xã Lạc Dưong, đền Đà Rạch ổ xã An Hái, đền Pha Duy ỏ xã Chu Túc, đền Lạc Quyên ớ xả Vân Mộng, đền Hố Lao, Phục Ba (Mã Viộn) Ngày nay, đến nhiều ngôi chùa cứa người Tày ỏ các xã Chi Lăng, Hùng Viột, Hùng Son (Tràng Định) ta cũng thấy sự phức hợp thờ cứng của nhiều loại hình tôn giáo.

Trong các loại hình tín ngưởng tồn tại ỏ vùng đất xứ Lạng, tín ngưỡng thò Mẹ đã có chiều dài lịch sứ. sống giữa thiên nhiên, gần gũi với núi rủng cỏ cây, trong tâm thức cúa người Tày, Nùng bình dị dưàng nhu còn ít nhiều duy trì dấu vết của chế độ Mầu hệ. Dấu vết ấy ta bắt gặp qua tục thò cúng Mẹ Trăng, Mẹ Hoa, Mẹ Pựt Vào những đêm tràng mùa xuân tháng Giêng, Hai, người Tày, Nùng thường tổ chức lễ hội mừng Mẹ Trăng: đón Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống trần, rồi lại tiễn Mẹ Trăng về tròi. Mẹ Triing còn xuát hiện trong các hội Lượn, các câu chuyện kể, trong lời ca tiếng hát của thanh niên nam. nữ.

Một điều đáng chú ý là tục thờ Mẹ Hoa (Bjoóc). Có thể nói, cây và hoa hết súc thiêng liêng trong đời sống tín nguỡng Tày – Nùng. Dân gian Tày vẫn lưu truyền phố biến huyèn thoại về một bông hoa chứa: hoa vặc viện (hay pặc piền) mỗi năm chí rụng một cánh, trai gái may mắn nhật được cánh hoa ấy sẽ trẻ mãì không già và suốt đòi hạnh phúc. Người dân tin rằng “hoa” chính là lỉnh hồn cùa họ. Hoa – Mẹ Hoa, còn được gọi là Chúa Hoa, Chúa Ba, Công chúa Bạch Hoa, Bà Mụ, Hoa Vương Thánh Mẩu.

Trong hát Then, nguòi Tày có hẳn một chương cầu Bjoóc để cầu tự, cầu Bà Hoa Vương Thánh Mâu nặn nên con cái cho loài ngưòi. Rà có cả vuòn hoa vàng sinh ra con trai, vườn hoa bạc sính ra con gáì. Vì thế, trong các nghi lễ hội còn có lễ hồn hoa (khăn Bjoóc) với lời khấn:

Mẹ Hoa sinh ra Mẹ Hoa dật ìại

Theo một số nhà nghiên cứu, có thể Mẹ Hoa là thay cho Mẹ Bẩu vốn là nì3 thần Tày-Thái cổ, và cũng có thể tên gọi này có mối liên quan vói các ý niệm “Hoa nuong Tiên cô” hoặc “Hoa nương Thánh Máu” vổn là một nử thần tồn tại trong tâm thức các tộc ngưòi trong khu vực Hoa Nam và Bắc Đông Dương.

Bên cạnh việc thò phụng các vị thần tự nhiên, mang nữ tính, ngưòi Tày – Nùng còn có một vị thần tối cao: Pựt Luông (Luông nghĩa là lÁn, cả, cao nhất), ý thúc “Mẹ” đã in một cách sâu đậm vào cư dân ò đây đến mức Đức Phật Thích Ca – vốn là nam giới – đến vùng này đã bị chuyển hóa thẤnh Mẹ Phật Thích Ca (Mẽ Pựt Xích Ca) và đuọc gọi là Mẹ Pựt (Pựt biến âm thành Phật) người Kinh gọi là Bụt. Cả một hệ thống truyện Pựt Luông và các nàng tiên con gáì Mẹ Pựt đã được lưu truyền trong dân gian Tày – Nùng. Điều nhận thấy là dưòng như có một mối liên hệ giữa các Mẹ Then, Mẹ Hoa, Mẹ Pựt, thậm chí cả mẹ Bẩu. Mẹ Then và Mẹ Hoa đả tồn tạì từ xa xưa trong tâm thúc dân gian. Tục ngứ Tày có câu:

Mẹ Then ỏ trên cao Mẹ Hoa ỏ trên trời

Với nguòi dân, Mẹ Then có chúc năng sáng tạo, Mẹ Hoa là linh hồn, bảo vệ che chớ họ và rất có thể sau khi tín ngưõng bản địa của người Tày – Nùng tiếp thu và hỗn dung vói đạo Phật thì Mẹ Hoa và Mẹ Then đã chuyển hóa thành Mẹ pựt

Ngưòi Việt ỏ các tỉnh miền núi phía Bắc cũng như ỏ nhiều noi trong cả nước cũng có tín ngưỡng thò Mẹ. Trong truyền thuyết về

 

Liễu Hạnh Công Chúa của người Việt có chi tiết Mâu Liễu Hạnh lên vùng biên giới Xứ Lạng. Chuyện kể rằng: sau khi dược vua cha phong làm Liễu Hạnh công chúa, nàng lại xuống trần lần thứ hai. Vì còn nặng tình duyôn, nàng trớ lại thàm nom bố mẹ, khuycn báo chồng là Đào Lang tu chí học hành. Đốn khi cha mẹ chồng qua đòi, con cái lổn khôn, không còn vướng víu gì nàng mới đi chu du thiên hạ, gia ân, gia oán, dừng chân ỏ nhủng nơi núi non danh thắng. Đến Lạng Sơn, thấy bên núi có một ngôi chùa phong cảnh hứu tình với nhứng rặng thông xanh cao vút, nhủng khóm lan tươi đẹp nhưng lại bị cỏ lấp dấu chân, bia phủ rêu xanh, tuọng Phật bụi mờ, ít có người qua lại vãn cánh, Liễu Hạnh không vui. Nàng ngồi tựa gốc cây thông gẩy đàn cất tiếng hát, ca ngợi thú son lâm và đón đợi trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, khi ông vừa đi sứ bên Trung Quốc về. Mượn chuyện văn thơ, đổi đáp chữ nghĩa, nàng đã nhắc khéo ông Trạng nguyên tu bổ lại ngôi chùa dẹp nhưng bị bỏ hoang nơi vòing biên ải này. Ngay sau cuộc hội ngộ, Phùng Khắc Khoan liền gọi các phụ lão ỏ nơi sơn trang đó giao cho một khoản tiền để tu sủa lại ngôi chùa và đề một câu thơ ở hành lang bên tả, rồi ra đi. Câu thơ ấy là: “Tùng lâm tịch mịch phất nhàn gia”, nghĩa là: rùng rậm tịch mịch có nhà Phật. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta không biết địa danh chính xác của ngôi chùa đó.