Học tập

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

BÀI LÀM 2

Cuộc sổng vốn chứa đựng những bè bộn, ngổn ngang. Giũa vòng quay lất hột của cuộc muu sinh bận rộn ta dễ dàng lăng quên những giá trị vĩnh hhng được lắng két từ những điều bình dị. thân thuộc. Truyện ngắn Ruổi học cuối cùng (A.Đô-đc) là một truyện ngắn giàn dị và cảm động viết về một trong nhímg giá trị vĩnh hằng ấy. Dó chính là tình yêu tiếng nói dân tộc. Giá trị ấy đuợc nén dồn trong một buổi học cuối cùng, lấng lại trong tâm can lìh&ng nhân vật trong truyện cũng như bao độc giả nhũng xúc cảm khó gọi tên và khó nói nên lài. Trong cái giây phút xót xa, nghẹn ngào mà hồi hồi, xao xuyến áy, nhân vật thầy Ha-mcn đã nói với học sinh của mình câu nói để lại nhiều ý nghĩa sâu sắc: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm đưực chìa khoá chốn lao tù!”

Câu nói cùa thầy Ha-mcn đã có tác dụng khơi sáng nhũng tâm hồn non nót, vụng dại, nó cũng là một chân lí thể hiện sự nhận thúc sâu sắc của một con người về vai trò của tiếng nói dân tộc. “Một dân tộc rơi vào vòng I1Ô lệ” nghĩa là hụ bị trói buộc, bị cầm tù về mặt thể xốc cũng như tinh thần. Thông thường, trong nép căm, nếp ơghĩ của ta – một khi dân tộc ấy roi vào cơn bĩ cục như thế thì chỉ có một ‘con điròng duy nhất, một con đường cuối cùng để vưựt thoát nó. Ây là con đuờng tranh dấu. vùng dậy. Nhưng bằng sự sâu sắc cùa một con ngiròi từns trải, thầy Ha-men dã phát hiện ra được một sức mạnh nội tại có tác động ghê gớm, có khà năng (hay đổi dược cục diện tình hình – biến một dân tộc từ bị (rói buộc trong vòng nô lệ đến nắm được chìa khoá chốn laũ lù. Sức mạnh ấy có lừ tiếng nói dân tộc.

Tiếng nói – đó là linh hồn của một quốc gia, một dân tộc. Nó mang bản sắc riêng không thể hoà trộn giữa dũn tộc này với dân tộc khác. Với mỗi người, đó chính là “liếng mẹ đẻ”. Tiếng nói ấy thật thiêng liêng, thành kính mà cũng thật gần gũi, thân quen. Lúc bình thuờng, nó có thể là “Tiếng mẹ gợi trong hoàng hân khói sẫm / Cánh dồng xa cờ trắng rủ nhau về”, có thê là “Tiếng cha gợi khi vun cănh nhóm lùa / Khi chèo thuyền, gieo mạ, lức đưa nôi”… Đcn lúc nguy nan nhất, tiếng nói ắy trờ thành một thứ vủ khí sắc bén đe chống lại kc thù, đê cởi trói mụi gông cùm, xiềng xích. Nhưng để làm nẽn điều kì diệu này, đâu phải chi là sự lcn tiếng của một cá nhân, mộl con nguửi, DÓ đòi hôi phải là sự lổng hợp nhiều tiếng nói tạo thành nguồn súc mạnh lớn lao. Đó chính là tiếng nói cùa cả một dân tộc. Vậy, vì sao. tiếng nói dân tộc lại có đưọc sức mạnh to lứn đến thế? Như ta đã biết, đối với mồi con Iigirời khi ta cất tiéng nói ià biểu hiện của lĩìộl tâm hon đang vui sống – nghĩa là chứa đựng sự ycu ghét, giận hờn. Khi ta cất tiếng nói là trái tim dang đập nhịp cộng hường với cuộc đòi bao la rộng lứn. Với mộl dân tộc, lúc gian nguy, giừ vững tình yêu đối với tiếng nói dân tộc là một biểu hiện cụ thể, sâu sic cùa tình yêu đất nuớc. Bải sự “giữ vững” áy là một niềm tin sắt son, là tấm long thuỷ chung với tô quốc. Hon nữa, tiếng nói dân tộc còn là cội nguồn, gốc tích để ta khăng định sự tồn tại cùa một quốc gia.

Hẳn mỗi chúng la còn nhớ đến hài tha thần Nam quỏc sơn hà tircmg truyền cùa Lí Thuờng Kiệt được ngâm to trong hai ngôi đền Tnrơng Hống và Truang Hál đã làm rệu rã linh thần quân Tống. Đó chăng phải là biểu hiện của tình yêu nuức, tình yêu tiéng nói dân tộc hay sao? Đ6 chẳng phài là dân tộc ấy đã nắm đirợc chìa khoá chốn lao tù rồi hay sao?

Câu nói của thầy Ha-men đưa ta trử về vói hiộn Ihục một lóp học nhỏ, nơi đó có cậu bé Pliơ-răng và nhũng người bạn. Thật xa xót biết bao khi những con dủn của một đất nước lại không giử được tiếng mẹ đẻ của dân tộc mình. Càng xa xót hơn khi họ lại phái học thứ tiếng của chính kỏ đang thống trị trên đấi nuóc họ. Vậy, một khi tình yôu tiếng nói dân tộc bị đánh mất, mộl khi những thuàng dân của đất nuóc ấy không còn địìứi hình trong tâm thức mình tiếng mç đè nghĩa là dân tộc đó đang tự đem mình vào vòng nô lệ. Phải chăng, tư tường cốt lõi của An-phông-xơ Đô-đê đã bắt gặp quan điểm của Nguyễn An Ninh trong Tiếng mẹ dè – Nguồn giải phóng các dân (ộc bị áp birc: ‘Tiếng nói là người bảo vê quý háu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu to quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị… Vút bỏ (iếng nói dân lộc đircrng nhiên là khuóc từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi…. Chối từ tiéng mç đè đồng nghĩa vói từ chối sự tự do của mình”.

Tinh yêu tiêng nói dân tộc đâu chĩ là thước đo tâm hồn lình cảm và ý thức cùa con nguài truúc vận mệnh cùa đất nước, tình yêu ấy còn là mội thứ tình cảm bèn chặt, thường trực, phập phồng và đau đáu trong râm can và huyết quản của mỗi nguòi. Ai đă từng là một lữ khách tha huơng sau bao nhiêu năm trở lại quê cũ, hẳn sẽ không quên hai câu thư xúc động của Hạ Tri Chương: “Khi đi trẻ, lúc về già / Giọng quê không đổi, sương pha mái dầu”. Cái quý giá nlìất CÒ11 lại của C|UÔ hương, đó chính là giọng quê, ắy là phần hồn cót, phần máu thịt trong tâm hồn COI1 người mà họ giữ đưực vẹn nguyên. Tình yêu ấy đâu chỉ biếu hiện ử mỗi cá nhân, mà nó còn có một sức lan toả sâu xa tới đông đảo nhiều lớp nguửi. Thế hệ các nhà ihơ thuộc phong trào Thơ mói chẳng phài là “đã yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mum ihé kĩ đă chia SC vui buồn vói cha ông”, chẳng phải là “họ đã dồn tình ycu quê huơng trong tình yêu tiếng Việt”.

Suy đến cùng, “giữ vũng tiéng nói của mình” nghĩa là ta đang giữ gìn băn sác văn hoá của dân tộc. Cái bàn sắc ấy vốn được dệt nên từ những gì bình dị, gần gũi nhỏ nhặt, từ những cái giản đơn mộc mạc. Thực tế, ta khó có thể phát hiện ra được nó, một khi ta đang híl thỏr bầu khí quyển tinh thần của nó, quá quen với nó. Bởi vậy, mỗi chiing ta phải biết giữ gìn sự trong sáng của tiéng mẹ đẻ, của tiếng nói dân tộc. Giữ gìn nghĩa là ta không làm cho nó bị thui chột, bị pha tạp, bị lạm dụng một cách quá mức. Bừi sự thật, trong những người trẻ thế hệ 8X, 9X ờ nuớc ta hiện đang tồn tại nếp nghĩ “sùng ngoại”, đang có những biểu hiện làm xấu đi sự “giàu và đọp” của tiếng Việt. Nhưng “giữ gìn” tiếng nói dân tộc không đồng nghĩa vói việc “Ta về ta (ấm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Ngược lọi, la cần học tập tiếng nước ngoài, làm giàu cho ngôn ngữ nựóx; irùnh. Nghĩa là học cập dưới tấm lưứi của sự sàng lọc, tuyển chọn. Tựu chung, nghĩa là ta không đirợc khỉnh miệt tiếng nói inẹ đc của mình, không được li khai với truyền thống văn hoá quý báu cua dân tộc, nhưng đồng tliừi cũng không được hằn ghét những cái hay của văn hoá thế giới.

Đối vói lịch sử oai hùng của dân tộc ta, câu nói trên như một chân lí hùng hồn. “Giữ vững tiếng nói cửa mình “, dân tộc ta đã vượt qua sự xâin lăng về mặt lanh thổ, biên giới. Trong xu thế “toàn cầu hoá” hiện nay, việc “giữ vững tiếng nói của mình” lại càng được đặt ra với chúng ta cắp thiết hon bao giờ hết. Bải vì lẽ đó, mỗi chúng ta hãy tự trau dồi cho mình một vón ngôn ngữ dân tộc, giữ vững ùnh yêu tiếng nói dân tộc, giữ gìn, phát huy sự giàu và đẹp của tiếng nói dân tộc mình.

Không hiếu sao khi nhắc đến tình yêu đối với tiếng nói dán tộc. với tiếng mẹ đẻ. tôi không thề quên được những câu tha gan ruột của nhà thơ Lun Quang Vũ.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng

Cao quỷ thâm trầm rực rỡ, vui tưrri

Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người…

Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ…

Ai phiêu bạt noi chân trời góc bể Có gọi thầm tiêng Việt mỗi đêm khuya…

{Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ)