Vãn Hóa Ba Tư

Vãn Hóa Ba Tư

Thành tựu của các nhà vua Ba Tư.

Gần như mọi hoạt động của chính quyền hoàng gia đều hướng đến mục tiêu hiệu quả quân sự và an ninh chính trị. Nhất là Darius I, cố đào tạo thanh niên Ba Tư dòng dõi con nhà quyền quý để làm cho họ thích nghi với cuộc sống chiến binh. Ỏng cũng tìm cách làm cho các tầng lớp thượng lưu thấm nhuần các đức hạnh khắc khổ, lòng trung thành và danh dự, khuyên họ không nên thói tật và xa hoa. Sau cùng, tất cả nỗ lực của ông chi’ ]à hoài công, vì người Ba Tư cũng không hơn gì người Assyria không thể cưỡng lại nổi sự cám dỗ của quyền lực và của cải bất ngờ. Một hành động trong sô các hành động nổi bật khác của chính quyền là việc xây dựng hệ thống đường sá tuyệt hảo, là hệ thống giao thông tốt nhất trước thời La Mã. Nổi tiếng nhất là Con đường hoàng gia, dài khoảng 1.600 dặm, nối liền Susa gần Vịnh Ba Tư với Sardis ở Tiểu Á. Xa lộ này được bảo quản duy tu tốt để cho những người đưa tin của nhà vua, di ngày di đêm, có thể đi hết con đường chỉ trong một tuần. Gần như các tỉnh đều được nối liền với một trong số bốn kinh thành Ba Tư: Susa, Persepolis, Babylon và Ecbatana. Mặc dù lẽ đương nhiên con đường này tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, nhưng xa lộ dược xây dựng chủ yếu để tạo diều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát các bộ phận nằm xa đế chế.

Vãn Hóa Ba Tư

Văn hóa chiết trung Ba Tư. Văn hóa

của người Ba Tư, hiểu theo nghĩa hẹp là các thành tựu tri thức và nghệ thuật, phần lớn có nguồn gốc từ các nền văn minh trước đó. Phần lớn trong số này
xuât phát từ Lưỡng Hà, một phần xuất phát từ Ai Cập, và một số từ Lydia và bắc Palestine. Hệ thống chữ viết của họ ban đầu là chữ hình nêm Babylon, nhưng họ cũng nghĩ ra một bảng chữ cái với 39 chữ, dựa trên bảng chữ cái của người Aramean đang mua bán trao đổi bên trong biên giới của họ. Trong khoa học họ không đạt được thành tựu gì cả, ngoại trừ việc tiếp thu với một số bổ sung sửa dổì nhỏ trong dương lịch của người Ai Cập và khuyến khích thám hiếm như một phương tiện hỗ trợ thương mại. Họ có công trong việc truyền bá kiến thức về hệ thống tiền tệ của người Lydia ra nhiều nơi d Tây Á.

Đặc điểm chiết trung trong nghệ thuật Ba Tư. Tuy nhiên chính trong kiến trúc của ngưòi Ba Tư mới thể hiện rõ nhât đặc điểm chiết trung trong nền văn hóa của họ. Họ mô phỏng kiểu kiến trúc tạo bậc thang và nền đắp vốn rất phổ biến ở Babylon và Assyria. Họ cũng mô phỏng tượng bò đực có cánh, gạch men màu sáng, và các motif trang trí khác trong kiến trúc Lưỡng Hà. Nhưng ít nhất hai trong số các đặc điểm hàng đầu trong xây dựng Lưỡng Hà nói chung không được người Ba Tư áp dụng – cửa tò vò và mái vòm. Thay vào dó, họ tiếp thu cột và dãy cột của Ai Cập. Những

Phù điêu trong Cẩu thang ở Persepolis. Hình chụp ồ đây cho thấy những người bị chinh phục mang lễ vật triếu cống dâng vua Ba Tư. Nhiều dân tộc khác nhau theo kiểu trang phục.

vấn đề chẳng hạn như bố trí nội thất và sử dụng thiết kế hoa sen và cọ ở chân cột cũng cho thây ảnh hưởng rõ nét của Ai Cập. Mặt khác, việc tạo rãnh ở cột và kiểu trang trí xoắn ốc hay dạng cuộn phía dưới đầu cột không phải của người Ai Cập mà của người Hy Lạp, tiếp thu không những từ Hy Lạp trong phần lục địa mà còn tiếp thu từ các thành phố Ionian vùng Tiểu Á. Nếu có một điều gì dó độc dáo trong kiến trúc Ba Tư, thì đố là tính thế tục thuần túy. Cấu trúc Ba Tư đồ sộ không phải là đền thờ mà là cung điện. Nổi tiếng nhất là dinh thự nguy nga của Darius và Xerxes ở Pexsepolis. Dinh thự của Xerxes, xây dựng phỏng theo đền thờ ở Karnak, có sảnh tiếp khách khổng lồ ở giữa, với hàng trăm cột, bao quanh là vô số phòng dùng làm văn phòng hay nơi ở của các hoạn quan và thành viên hậu cung hoàng gia.

BẢI Hỏa Giáo (ZoroasTriAn Religion)

Tôn giáo của người Ba Tư. Người Ba Tư cổ đại để lại ảnh hưởng kéo dài nhất là ảnh hưởng từ tín ngưống của họ. Hệ thống niềm tin của họ có nguồn gốc từ thời cổ đại. Tín ngưỡng này phát triển mạnh khi họ bắt đầu công việc xâm chiếm. Với sức hấp dẫn quá mạnh, và điều kiện được người khác chấp nhận đã chín muồi, tín ngưỡng này phát triển trong hầu khắp vùng Tây Á. Giáo điều của tín ngưỡng này làm thay đổi hoàn toàn các tín ngưỡng khác, thay cho niềm tin hiện có. Thế giới quan của các dân tộc cho đến thời điểm này đã được tín ngưỡng này nâng đỡ và làm sai lệch.

Sự xây dựng tôn giáo Zoroaster. Mặc dù nguồn gốc xuất xứ của tín ngưỡng này có từ thế kỷ 5 TCN, nhưng người sáng lập thật sự là Zoroaster[1] dường như sống trước khi người Ba Tư thành lập đế chê khoảng 100 năm.

Tín ngưỡng được đặt theo tên ông, Zoroastrianism – Bái hỏa giáo. Dường như òng nhận thức rằng mình có nhiệm vụ phải làm trong sạch niềm tin truyền thông của dân chúng – xóa thưyết đa thần, hiến tế động vật, và ma thuật, để hình thành sự thờ phụng dựa trên bình diện tâm linh và đạo đức hơn. Cuộc vận động’ do ông dẫn dắt là sự đi kèm tự nhiên với sự chuyến tiếp sang cách sống dựa vào nông nghiệp văn minh hơn được thể hiện rõ trong lời dạy của ông phải kính trọng bò cái và trong quy định của ông xem việc canh tác đất là một nhiệm vụ thiêng liêng. Bất chấp nhiều nỗ lực cải cách của ông, nhiều tập tục mê tín trước đây vẫn còn tồn tại (như hiện nay), và dần dần pha trộn vào quan niệm mới.

Đặc điểm Bái hỏa giáo: 1) Thuyết nhị nguyên. Trong nhiều phương diện, Bái hỏa giáo có đặc điểm độc đáo trong sô” các tín ngưỡng trên thê giới cho đến thời điểm ấy. Trước hết, tín ngưỡng này theo thuyết nhị nguyên – không phải một thần nhu tín ngưỡng của người Sumer và Babylon, trong đó thần thánh có thể mang tính thiện và ác, cũng như khống kỳ vọng vào thuyết một thần, hay niềm tin vào một thần tính duy nhất, như trong tín ngường của người Do Thái và Ai Cập trước đó. Hai vị thần quan trọng cai quân vũ trụ: Ahura-Mazda3, vô cùng thiện, không hề làm điều ác, hiện thân cho nguyên tắc hiểu biết, chân lý và công chính; Ahriman, vị thần xảo trá, hiểm ác, chúa tể các thê lực đen tối, dộc ác. Cả hai đều trong cuộc chiến vô vọng để giành uy thế. Mặc dù họ có sức mạnh ngang nhau, nhưng thần hiểu biết sau cùng giành chiến thắng, và thê giới được cứu khỏi các thế lực đen tối.

Niềm tin theo thuyết mạt thế. Thứ hai, Bái hôa giáo là tín ngưỡng theo thuyết mạt thế. “Thuyết mạt thế” là giáo điều của sự vật gần đây hay cuối cùng

1 Tên thường được viết tắt thành Mazda.

bao gồm những quan niệm như sự xuất hiện của đấng cứu thế, sự phục sinh từ cái chết, sự phán xét cuối cùng, và truyền đạt ý người được cứu rỗi sẽ đến được thiên đàng vĩnh hằng. Theo niềm tin Bái hỏa giáo, thê giới kéo dài 12.000 năm. Sau 9.000 năm, có sự quang lâm lần hai của Zoroaster, như một dấu hiệu và lời hứa sự chuộc lỗi sau cùng vì đã làm điều thiện, tiếp theo sau là sự sinh ra bằng phép màu của Saoshyant, với nhiệm vụ là làm cho diều thiện trở nên hoàn hảo như sự chuẩn bị cho ngày tận thế. Sau cùng, ngày trọng đại cuối cùng sẽ đến khi Ahura-Mazda chế ngự và ném Ahriman xuống địa ngục. Người chết sau đó sẽ từ huyệt mộ sống dậy dược phán xét theo những gì dáng được thưởng phạt. Người công chính sẽ dược hưởng phúc đời đời trong khi người độc ác sẽ bị xử bằng lửa địa ngục thiêu đốt. Sau cùng, tất cả đều được cứu rỗi, vì dịa ngục Ba Tư, không giống như địa ngục của người Cơ Đốc, không kéo dài mãi.